Nơi Xuất Bản : Nxb Hội Nhà Văn
Tác Giả : Nam Lê
Ngày xuất bản : 2011
Số trang : 398
Kích thước : 14 x 20,5cm
Trọng lượng : 420(gr)
Hình thức bìa : mềm
Giá bìa : 80 000 VNĐ
Giá bán: 80 000 VNĐ
Giới thiệu về nội dung:
Sở dĩ Con thuyền - một tác phẩm đầu tay - có khả năng khuấy đảo văn đàn với lời tán thưởng vang dội từ khắp mọi châu lục, có thể đưa một luật sư trẻ gốc Việt vô danh ở Úc trở thành một trong những nhà văn sáng giá được ngưỡng mộ nhất tại Mỹ là bởi nó đã dùng ngòi bút ma lực vẽ nên một hành trình phi thường vòng quanh thế giới từ New York khuất lấp bao hối hận đau đớn tới ngoại ô Melbourne nhiều uẩn khúc, từ một đêm Tehran ngột ngạt bức bối tới buổi sáng trong vắt khi chiếc B-29 Enola Gay đi vào không phận Hiroshima, từ những cao nguyên Columbia khát máu tới những thuyền nhân Việt Nam đói nước. Từng thề sẽ không bao giờ viết truyện dân tộc, nhưng cuối cùng Nam Lê lại dấn thân khám phá những miền đất trên địa cầu với tư cách người trong cuộc, biểu lộ ở cả sự am hiểu tường tận lẫn mối quan tâm sâu sắc, như thể vẻ đẹp cùng nỗi đau của mỗi xứ sở đều thấm đẫm lương tâm của người viết. Với Nam Lê, đó vừa là trách nhiệm, vừa là tham vọng của một cây bút sung sức trên con đường trở thành nhà văn quốc tế.
Trích Con Thuyền:
Tình yêu và danh dự và thương hại và kiêu hãnh
và cảm thông và hy sinh
Ba tôi đến vào một buổi sáng trời mưa. Tôi đang mơ về một bài thơ, tiếng lọc cọc đều đều của bàn phím máy chữ tuôn ra các từ. Đó là một bài thơ hay - có thể là bài hay nhất tôi từng viết. Khi tôi mở mắt, ba đang đứng ngoài cửa phòng ngủ, mỉm cười mơ hồ. Ông mặc quần đen và một cái áo khoác vải dù ướt nhẹp nhàu nát như vừa lấy từ máy giặt ra. Đóng khung bởi khuôn cửa phòng ngủ, ông trông nhỏ bé hốc hác hơn là trong trí nhớ của tôi. Vẫn còn đờ đẫn bởi giấc mơ, tôi nhấc đầu về phía đồng hồ báo thức.
“Mấy giờ rồi ba?”
“Chào con trai,” ông nói bằng tiếng Việt. “Ba gõ cửa nãy giờ lâu lắm. Rồi nó tự mở.”
Những cánh đồng thủy tinh, tôi nghĩ. Rồi tum-ti-ti, một dactyl, hết dòng, rồi từ lý do và hợp kim ở dòng tiếp theo. Tiếp nào, tôi nghĩ.
“Đang mưa to lắm,” ba nói.
Tôi cau mày. Đồng hồ chỉ 11:44. “Con tưởng chiều ba mới tới.” Cảm giác nói tiếng Việt lần đầu tiên sau một thời gian dài nghe thật lạ.
“Họ đổi chuyến bay của ba ở Los Angeles.”
“Sao ba không gọi điện?”
“Ba có gọi,” ông điềm tĩnh nói. “Không ai trả lời.”
Tôi trở người sang một bên giường và mở tung cửa sổ. Tiếng mưa tràn ngập phòng - mưa rơi trên phố, trên mái nhà, trên cái lán thiếc đựng dụng cụ bên kia bãi đỗ xe nghe như tiếng pháo rền xa xa. Mọi thứ đều mang mùi lá ẩm ướt.
“Con tắt chuông điện thoại khi ngủ,” tôi nói.
Ông vẫn cười với tôi, một cách ngụ ý, như đang đợi một lời tuyên bố.
“Con đang mơ.”
Khi tôi còn nhỏ, ba thường đánh thức tôi bằng cách cúi xuống bên giường vỗ nhẹ vào má tôi. Tôi ghét điều ấy, cái ẩm ướt, chua chua của bàn tay ba.
“Thôi dậy nào,” ông nói, nhấc chiếc túi Adidas và một gói cuộn tròn nhìn như túi ngủ. “Đi một ngày đàng học một sàng khôn.” Ông có thói quen dùng tục ngữ Việt Nam khi nói. Từ lâu tôi đã học cách lờ đi điều này.
Tôi tròng cái áo thun vào người và vươn cổ nhìn ra cửa sổ độc nhất trong phòng. Qua màn mưa, bầu trời xám xịt và rạn nứt như than chì. Những cánh đồng thủy tinh... Như một hình thể bằng khói, bài thơ mờ đi rồi tan vào cái hiện thực mới, xa lạ và lạnh lẽo này: bãi đỗ xe gió lộng và mưa quất, căn phòng tối gần như bị chiếc giường chiếm trọn, nước chảy nhỏ giọt từ thân hình nhỏ bé của ba xuống sàn gỗ.
Tôi tới gần ông, chân nổi da gà dưới quần ngủ. Với vẻ thản nhiên thân thiện, ông quan sát tôi đưa tay ra bắt một tay ông, rồi đỡ mấy cái túi ra khỏi tay kia. “Ba chắc mệt lắm rồi,” tôi nói.
Ông bay từ Sydney, Úc. Tổng cộng là ba mươi ba tiếng - chuyển tiếp ở Auckland, Los Angeles và Denver - trước khi hạ cánh ở Iowa. Đã ba năm rồi tôi chưa gặp ông.
“Ba ngủ trong phòng con.”
“Sang quá,” ông nói trong khi dẫn tôi đi quanh căn hộ của chính tôi. “Con có cả đàn piano.” Ông nhìn tôi cười gần như rầu rĩ. “Ba biết con không bao giờ bỏ hẳn đâu.” Có cái gì đó lay động phía sau mặt ông và tôi thấy hình ảnh mình xưa kia ngồi trên chiếc ghế đẩu kê cao, các ngón tay đuổi theo máy đánh nhịp, trước và sau, cố bỏ ngoài tai tiếng thở dài liên tục của thầy dạy nhạc, cái thước sắt dày nặng của thầy. Tôi nhận ra tôi đang nắn bóp các đốt ngón tay của mình. Ba vỗ vào cái ghế xếp trong phòng khách. “Ba sẽ ngủ ở đây.”
“Ba ngủ trong phòng con, ba.” Tôi thấp thỏm nhìn ông thăm dò không gian xung quanh chúng tôi, lộn xộn sách, giấy, đĩa, tách, quần áo bẩn - tôi đã định sẽ dọn dẹp trước khi ra sân bay. “Đằng nào con cũng làm việc trong phòng này, mà con lại làm vào buổi tối.” Khi ông đi vào bếp, tôi cầm chai Johnnie Walker còn đầy đến ba phần tư để trên ngăn kệ thứ hai lên giấu xuống dưới bàn viết. Tôi nhìn quanh. Cái máy tính để bàn nhớp nhúa tàn thuốc. Tôi quăng mấy tờ tạp trí lên che những chỗ bừa bộn nhất, rồi lật úp một quyển bìa có hình chủ tịch Mao Trạch Đông. Tôi vội vã thu hết các bao thuốc lá, thuốc ngủ, đế nến thơm và bỏ hết lên trên một cái kệ cao, đằng sau các tác phẩm của Kafka do Vintage Classic xuất bản.
Tại cửa kéo phòng bếp, tôi chợt nhớ đến tấm ảnh của Linda bên cạnh máy in. Tôi gọi nó là kiểu ảnh quyến rũ của em: tóc gió thổi ra sau và mắt nheo, đang cười với cái gì đó ở ngoài khung ảnh. Một trong các bạn trai cũ của em chụp ảnh đó ở hồ MacBride. Em trông hạnh phúc. Tôi vớ lấy nó lật úp xuống, phủ giấy nháp lên trên.
Khi đi vào bếp, trong một khắc tôi nghĩ mình đã để mở cửa thoát hỏa. Tôi có thể nghe thấy tiếng nước mưa chảy ồ ồ trong lòng máng xuống ống thoát nước. Rồi tôi thấy ba đang đứng cạnh bồn, tay áo xăn lên, giẻ rửa bát trên tay, rửa đống bát đĩa đóng bựa dồn lại từ một tháng nay. Mùi bốc lên đáng sợ. “Ba,” tôi cau mày, “ba không cần làm thế.”
Tay ông, rắn rỏi và dẻo dai, chuyển động khéo léo trong bồn.
“Ba,” tôi nói, miễn cưỡng.
“Ba sắp xong rồi.” Ông nhìn lên mỉm cười. “Con ăn chưa? Con muốn ba nấu cơm trưa cho con không?”
“Thôi,” tôi nói, tự dưng thấy bực mình. “Ba mệt lắm rồi. Con sẽ đi mua gì đó về.”
Tôi quay lại phòng ngủ qua phòng khách, đi đến đâu là thu dọn quần áo và rác đến đấy.
“Con không phải lo cho ba,” ông gọi với theo. “Con cứ làm mọi việc như bình thường thôi.”
Sự thật là ông đã đến vào thời điểm tồi tệ nhất. Tôi đang ở năm cuối Khóa tập huấn nhà văn trẻ ở Iowa; giờ là cuối tháng Mười một và tôi phải nộp truyện ngắn cuối kỳ trong ba ngày nữa. Tôi có một chồng bài phải chấm và một đống hồ sơ xin việc và xin học bổng cần phải viết để nộp. Không lạ là dạo này tôi uống nhiều vậy.
Chỉ tới tận đêm trước tôi mới kể với Linda rằng ông sắp đến. Chúng tôi đang ở nhà em. Cơ thể em trơn mồ hôi thật khó mà ôm. Cơ thể em mang mùi quần áo em. Em lật tôi xuống, mặt tôi chạm nhẹ tấm ga trải giường, rồi em lấy sống tay chém lưng tôi. Cao hơn. Ra ngoài một tí nữa. Em khó giữ nhịp điệu đều đặn. “Nhẹ hơn,” tôi bảo em. Mấy phút sau, tôi bắt đầu cười thành tiếng.
“Sao?”
Mặt tôi ép vào tấm ga trải giường ẩm.
“Sao?”
“Nhẹ hơn,” tôi nói, “không phải chậm hơn.”
Em lấy lòng bàn tay vỗ vào lưng tôi, mạnh - một lần, hai lần. Tôi không thể nín cười. Tôi lật người lại và nắm lấy cổ tay em. Bị kéo về phía trước, em đỏ bừng, tuyệt đẹp. Tóc em đổ xòa xuống mặt; bên dưới đường viền hoe xám ấy, tôi chỉ có thể thấy đôi môi hé mở của em. Em nằm sát xuống người tôi, bờ vai em nhô lên đường cong dài mảnh từ gáy tới cái lưng thon. “Đừng anh!” môi em nói. Em giật tay ra. Các ngón tay em dưới thắt lưng tôi, bạo liệt, móng tay em cào đùi tôi, đầu gối, cổ chân. Tôi duỗi thẳng mũi chân như một nghệ sĩ múa ba lê.
Một lúc sau, tôi nói với em rằng ba tôi không biết về em. Em không nói gì. “Chỉ vì ba anh và anh không nói về những chuyện như thế,” tôi giải thích. Em nhìn như một diễn viên, người trông giống bạn gái của tôi. Nhìn chăm chú vào mặt em làm tôi mệt mỏi. Gần đây, tôi bắt đầu hay cảm thấy thế hơn khi ở gần em. “Ông chỉ ở đây ba ngày thôi.” Ở đâu đó không nhìn thấy, một đám sinh viên nam huýt sáo và gào thét.
“Em tưởng anh không hề nói chuyện với ba anh cơ mà.”
“Ông ấy là ba anh.”
“Ông muốn gì?”
Tôi lăn về phía em, tì người lên khuỷu tay. Tôi cố nhớ lại xem tôi đã kể với em bao nhiêu về ông. Chúng tôi đang nằm trên giường, gió thổi xào xạc trong phòng - tôi vẫn nhớ điều ấy - và cả hai đều say. Giọng của chúng tôi có thể là hai giọng bất kỳ nào trong bóng tối. “Chỉ ba ngày thôi mà,” tôi nói.
Vẻ mặt em trông lạ lạ, kín bưng. Em nhìn tôi cân nhắc một lúc lâu. Rồi em trở dậy, mặc quần áo. “Anh nhớ viết xong truyện ngắn là được,” em nói.
Tôi Uống Trước Cả Khi Đến Đây. Tôi uống khi còn là sinh viên đại học và cả khi đã là một luật sư - trong cuộc đời trước của tôi, như người ta thường nói. Gần chỗ tôi làm việc có một cái quán dưới tầng hầm một khách sạn, tối nào tôi cũng vào đó, ngồi phịch lên cái ghế cạnh quầy bar và giả vờ không muốn anh phục vụ nói chuyện phiếm với mình. Anh ta chỉ lớn tuổi hơn tôi một chút, thế nên tôi thấy ghen với sự thoải mái, với sự tự tin của anh rằng bất cứ tình huống nào cũng chỉ là tạm thời. Tôi để lại tiền boa ngất ngưởng. Chẳng mấy chốc tôi được quán bar chiêu đãi tôm bao bột và bánh nhân thịt cừu. Lúc đó ba má tôi đã chia tay, ba chuyển tới Sydney, má chuyển vào một căn hộ của chính phủ.
Đó là tất cả những gì tôi làm từ trước đến nay, buôn chữ. Thỉnh thoảng tôi vẫn nghĩ về số từ theo cách một viên tướng nghĩ về số thương vong. Tôi đã ở Iowa hơn một năm - ngày trôi qua theo tuần, tháng và rồi hơn một năm bao gồm những ngày - thế mà tôi chỉ viết được có ba truyện rưỡi. Khoảng mười bảy ngàn từ. Lúc còn làm việc ở hãng luật, tôi có lẽ đã viết được từng ấy từ trong vài tuần. Và chúng hẳn đã có ích cho ai đó.
Hạn nộp truyện đến, thật mệt mỏi, tôi gồng mình viết cho kịp. Để rồi sau đó, trong khoảng thời gian dài giữa các hạn nộp, tôi quay trở về với màn hình trống trơn và đầu óc dần dần trở nên mụ mị. Tôi thử đủ thứ - viết tay, viết trên giường, viết trong bồn tắm. Thời hạn nộp truyện cuối cùng đến gần, tôi nhớ tới một người bạn nói rằng anh đã vượt qua được sự bế tắc ý tưởng khi chuyển sang dùng máy đánh chữ. Cậu tự do viết, anh ta nói, khi cậu biết cậu không thể xóa được những gì đã viết. Tôi mua một cái máy đánh chữ điện hiệu Smith Corona ở một cửa hàng đồ cổ. Khi tôi cắm điện vào, nó kêu như một cái bể cá nhiệt đới. Để trên bàn, nó nhìn khá đẹp. Tôi đọc những bài thơ kiểu cách đến ngớ ngẩn thời Victoria và uống rượu Scotch nguyên chất để tìm cảm hứng. Sao có thể khó đến thế được? Thế giới này lúc nào chẳng có chuyện xảy ra. Tôi chỉ phải ghi lại thôi. Trên trời, hai bầy chim sẻ hội lại, rồi chia ra, rồi lại đan lẫn với nhau như những tấm voan trôi bồng bềnh trên sóng. Đứng xếp hàng trong siêu thị, người phụ nữ da đen cúi về phía trước chạm môi vào tay cầm xe đẩy hàng, da cô đen mượt như hộp gỗ láng bóng của đàn dương cầm.
Tuần trước khi ba tôi đến, một người bạn đã phê phán chủ nghĩa thất bại cố hữu của tôi.
“Bế tắc ý tưởng?” Miệng anh ta phà ra hơi rượu bourbon dưới ánh đèn đường. “Sao cậu có thể bế tắc ý tưởng được? Cứ viết một truyện về Việt Nam ấy.”
Chúng tôi vừa trở về từ một bữa tiệc sau buổi đọc truyện của một tác giả thành công gần đây nhất của khóa tập huấn, một phụ nữ Trung Quốc đang cố nhập cư vào Mỹ, cô đã viết tuyển tập truyện ngắn về những nhân vật người Trung Quốc trong quá trình nhập cư vào Mỹ. Các truyện ngắn đều hay và tinh tế. Có tin đồn rằng cô đã được mời ký một hợp đồng sáu chữ số để viết hai quyển sách. Theo luật bất thành văn, những điều như thế này sẽ không được ai đề cập tới. Nhưng tất nhiên, đó là tất cả những gì mọi người bàn tán.
“Đang nổi đấy,” một thầy dạy viết văn nói với tôi tại một quán bar. “Văn học dân tộc đang rất nổi. Và quan trọng nữa.”
Đại diện của một số nhà văn tới thăm khóa tập huấn cũng có quan điểm tương tự: “Có rất nhiều những áng văn bóng bẩy quanh đây,” một trong số họ nói. “Các bạn phải tự hỏi bản thân, cái gì làm mình nổi bật?” Cô ta chỉ định một đồng nghiệp của mình, người này trả lời chậm rãi như thể ngâm kinh, “Hoàn cảnh xuất thân và kinh nghiệm sống của các bạn.”
Các bạn khác thì thẳng thắn hơn: “Tớ ngấy văn học dân tộc lắm rồi,” một cậu nói. “Rặt mô tả thức ăn nước ngoài.” Hoặc: “Chẳng biết được ngôn ngữ nghèo nàn là do tác giả chủ định thế hay là do không đủ vốn từ?”
Tôi được nghe kể về một người bạn của một người bạn là dân Washington, D.C., tốt nghiệp trường Harvard, đã đứng chụp ảnh bìa cho quyển sách của anh ta trong trang phục Nigeria truyền thống. Tôi hình dung bản thân mình đội nón đứng giữa ruộng lúa. Rồi tôi hình dung ba đứng trên cùng ruộng lúa đó, mặc quần áo lao động xơ xác, trẻ trung và nghiêm nghị.
“Đấy là cách làm độc giả chán ớn,” bạn tôi nói. Chúng tôi đều say và đang dắt xe đạp bởi lốp của cả hai đứa đã lần lượt bị thủng trên đường đến dự tiệc.
“Nhân vật lúc nào cũng nhạt nhẽo, chung chung. Chỉ cần nhà văn Tàu viết về người Tàu, hoặc nhà văn Peru viết về người Peru, hoặc nhà văn Nga viết về người Nga...” cậu ta nói, như đang ngâm vè trẻ con, rồi ngừng lại bởi lạc dòng suy nghĩ. Miệng cậu cong lên thành một điệu cười nghi hoặc. Tôi biết cậu ta đang giận dữ về một điều gì đó.
“Nhìn kìa,” tôi nói, chỉ vào một hiên nhà sáng choang trước mặt chúng tôi. “Mấy thằng kia có súng.”
“Chỉ cần có một hình ảnh thú vị hoặc một ẩn dụ trong mỗi chừng này dòng...” Cậu ta giơ ngón trỏ và ngón cái phác ra độ nửa trang, xe đạp nghiêng ngả trên vỉa hè. Tôi gật đầu với cậu ta, rồi gật đầu với một trong mấy gã trai trên hiên, gã gật đầu lại với tôi. Một chiếc ô tô đèn pha sáng choang đang đậu ở lối vào nhà, và giọng mấy đứa con gái thét ra từ bên trong, “Đừng bắn! Đừng bắn!”
“Cậu biết không,” bạn tôi nói át tiếng hét, “Faulkner nói rằng chúng ta nên viết về những chân lý cổ điển. Tình yêu và danh dự và thương hại và kiêu hãnh và cảm thông và hy sinh.” Đột ngột có một tiếng cạch ngắn ngủn đằng sau chúng tôi nghe như tiếng gõ của phím một cái máy chữ khổng lồ, tiếp theo là một vài tiếng hét nghẹn lại. “Tớ biết tớ là người xấu khi nói điều này,” bạn tôi nói, “nhưng đó là lý do tại sao tớ không ngại tác phẩm của cậu, Nam ạ. Bởi vì cậu có thể lúc nào cũng chỉ viết về thuyền nhân Việt Nam. Như trong truyện thứ ba của cậu.”
Cậu ta hẳn phải nghĩ tôi đang cúi đầu xuống khiêm nhường, nhưng thật ra tôi đang cố xem coi có phải mình vừa bị bắn vào sau đùi không. Tôi thấy đau nhói. Viên đạn chắc đã bắn trúng cái gì đó.
“Cậu có thể chuyên trị khai thác cái đề tài Việt Nam ấy. Nhưng thay vào đó, cậu chọn viết về ma cà rồng đồng tính và những kẻ sát nhân Columbia, và trẻ mồ côi Hiroshima - và những họa sĩ New York bị bệnh trĩ.”
Trong một khoảnh khắc như đang mơ, tôi giật thột mình. Bị xếp hạng như vậy, dưới hơi thở hôi mùi rượu của cậu ta, các truyện của tôi trở nên thật tầm thường. Chân tôi vẫn nhói đau. Tôi tưởng tượng sẽ sờ tay xuống phía sau quần bò, đưa tay ra trước mặt dưới ánh sáng đèn đường và thấy nó đẫm máu. Tôi tưởng tượng mình sẽ quay lại, lừ lừ leo lên hiên nhà và đá túi bụi hai gã trai trẻ. Tôi sẽ kể câu chuyện của mình vào một cái mic từ giường bệnh viện. Tôi sẽ viết truyện ngắn của mình trong một phòng giam của bang. Tôi sẽ giết một trong hai gã đó, có thể là ngộ sát, và không bao giờ nói về điều đó với bất kỳ ai. Không có lỗ thủng nào trong quần tôi.
“Tớ có lẽ là một người xấu,” bạn tôi nói, nghiêng ngả bên cạnh xe đạp của cậu ta vài bước trước tôi.
Nếu Bạn Hỏi Sao Tôi Tới Iowa, tôi sẽ nói rằng Iowa đẹp theo cách bất cứ nơi nào là đẹp: nếu bạn coi nơi này là câu trả lời cho một câu hỏi bạn tự hỏi mình mỗi ngày, chỉ bằng việc sống ở đó.
Buổi chiều ấy, khi tôi đang chuẩn bị tới nhà Linda, ba gọi tên tôi từ phòng ngủ.
Tôi dừng lại ngoài cánh cửa đóng kín. Tôi cứ nghĩ ông đang ngủ trưa.
“Con đi đâu đó?” giọng ông hỏi.
“Đi dạo thôi ạ,” tôi trả lời.
“Ba đi với con.”
Tôi luôn có ấn tượng mạnh rằng trên phố Summit tất cả mọi vật dường như đều có kích thước lớn hơn: các ngôi nhà hai tầng, thảm cỏ trải xuống tới vỉa hè mượt như cỏ sân gôn, các cây du với cành cao to - loại cành cây tôi luôn tưởng tượng các người cha hay treo đu dây lên cho các cô con gái mang váy trắng. Những chiếc lá, từng có màu vàng và đỏ, đang chuyển màu nâu, đỏ cam. Mưa đã tạnh. Tôi không hiểu vì sao nhưng chúng tôi đang đi ở giữa đường, nhựa đường đen sáng ánh dưới những chiếc lá bóng dính như tấm lưng một chú cá voi.
Tôi hỏi ông, “Ba muốn làm gì trong khi ở đây?”
Mặt ông nhợt nhạt, đóng khuôn trong một nụ cười. “Đừng lo cho ba,” ông nói. “Ba có thể chỉ tập thiền. Hoặc đọc.”
“Có một quán cà phê trong trung tâm thành phố,” tôi nói. “Và một quán ăn Nhật.” Nghe thật thê thảm. Tôi chợt nhận ra tôi không biết chút gì về những việc ông làm trong ngày.
Ông vẫn cười, nhìn xuống mặt đường đang chuyển động trước chân.
“Con phải viết,” tôi nói.
“Thì con viết.”
Và tôi không thể đọc được nụ cười của ông nữa. Ông đã hoàn thiện nó trong khoảng thời gian chúng tôi xa cách. Đó là một sự sắp đặt của đôi môi, kín đáo, hầu như không thể nhận thấy, mà hẳn tôi đã nghĩ đó là dấu hiệu của sự lú lẫn tuổi già nếu như không có vẻ tinh tường của đôi mắt ông.
“Có một bảo tàng nghệ thuật bên kia bờ sông,” tôi nói.
“À, đưa ba tới đó.”
“Tới bảo tàng ạ?”
“Không,” ông nói, nhìn ngang sang tôi. “Tới sông.”
Chúng tôi quay lại đường Burlington và đi xuống đồi tới sông. Ông dừng lại giữa cầu. Nước bên dưới nhìn lạnh và đen, chạy chậm ở vài đoạn vì không chống nổi nhiệt độ. Sau lưng chúng tôi, ô tô trên sáu làn đường trượt đi trượt lại trên làn đá rải đường ẩm ướt, âm thanh nghe như tiếng gió xé.
“Con có nghe tin gì từ má con không?” Ông đứng thẳng trước thành cầu, đầu ông nhỏ một cách kỳ lạ bên trên cái áo lông tơ phùng phình tôi cho ông mượn.
“Thỉnh thoảng thôi.”
Ông trở lại dùng tiếng Việt chuẩn: “Má Nam dạo này sao rồi?”
“Má khỏe,” tôi nói - quá lớn - cố gắng làm cho ông nghe thấy tôi qua tiếng kêu rên rỉ lách cách của một cái xe tải đi ngang.
Ông đang gật đầu. Đằng sau ông, bờ đông của dòng sông hửng lên nhợt nhạt trong ánh sáng buổi chiều. “Đi nào ba,” tôi nói. Chúng tôi qua cầu và đi tới hiệu Dairy Queen gần đó. Khi tôi trở ra với hai cốc cà phê trên tay, ba tôi đã xuống tới bờ sông. Cạnh ông, một thân hình có râu, quấn chặt trong quần áo đang đứng nhìn xuống một cái thùng phi đựng xăng đang cháy. Tôi chưa bao giờ thấy cảnh như thế ở Iowa.
“Đây là con trai tôi,” ba tôi nói, khi tôi đã bò xuống tới bờ sông ướt. “Nhà văn.” Tôi liếc nhanh sang ông nhưng mặt ông không biểu lộ điều gì. Ông nhấc cái cốc giấy nóng ra khỏi tay tôi. “Ông có muốn chút cà phê không?’
“Không, cảm ơn ông.” Người đàn ông đứng im, quan sát hai bàn tay đan vào nhau, lòng bàn tay ửng màu da cam bên trên mép thùng. Giọng ông ta nhẹ nhàng, quần áo nặng nề với cuộc sống của chính mình. Tôi ngửi thấy mùi súc vật ở ông, mùi ga, mùi mưa.
“Tôi đã đọc chuyện của nó,” ba tôi nói tiếp với thứ tiếng Anh lơ lớ, “về thuyền nhân Việt Nam.” Ông nhìn thẳng vào cặp mắt trống trơn, ướt nước của người đàn ông, rồi nói, như đang đọc lời thoại chủ chốt, “Chúng tôi là thuyền nhân Việt Nam.”
Chúng tôi đứng đó thiệt lâu, cả ba người, ngắm nhìn ngọn lửa. Khi tôi ngước mắt lên, trời đã tối.
“Con có tiền trong người không?” ba tôi hỏi bằng tiếng Việt.
“Chào mừng tới nước Mỹ,” người đàn ông nói qua chòm râu. Ông ta không ngước lên lúc tôi khép bàn tay ông lại quanh những đồng tiền ẩm.
Ba Tôi Bị Lôi Cuốn Bởi Sự Yếu Đuối, dù ông không chịu được bất kỳ sự yếu đuối nào nơi tôi. Ông từng là một người lính, ông nói, cứ như điều ấy giải thích tất cả. Với tôi, ông là toàn bộ các tục ngữ và quy định. Không nói chuyện riêng trên điện thoại. Không bạn gái. Không đọc gì ngoài chương trình học. Khi tôi còn học cấp một, ông bắt tôi vạch ra thời khóa biểu mười tiếng học mỗi ngày trong kỳ nghỉ hè và trừng phạt tôi nếu không làm đúng theo đó. Ông biết cách đánh tôi bằng gậy hai mươi lần mà chỉ để lại một vết lằn thâm tím, như một dấu vết để đời trên mông. Sau đó, khi ông bôi dầu con hổ lên vết thương, tôi khóc trong nỗi giận dữ với bản thân vì đã khóc. Một lần, khi má lỡ miệng nói rằng sầu riêng làm tôi ói, ba bắt tôi phải ăn thứ quả đó trước mặt khách. Đói ăn muối cũng ngon. Tôi học cách ghét ông mà không để lộ mặt.
Khi mười bốn tuổi, tôi phát hiện ra ông đã từng ở trong một vụ thảm sát. Sau này, tôi sẽ nhìn thấy ảnh, các bản tường thuật và sách; nhưng đêm ấy, tại một buổi tiệc ở nhà một người bạn của gia đình ở ngoại ô Melbourne, đó chỉ là một câu chuyện giữa những người đàn ông say. Họ ngồi khoanh chân trên những tờ báo trải quanh một tấm vải bạt lớn màu xanh da trời, uống bí tỉ bia rẻ tiền. Đến thời điểm ấy của đêm thì chuyện này cứ thế dẫn tới chuyện kia. Mặt đỏ, giọng lên cao, cốc rượu đổ. Chúng tôi tới trễ, các chú xê dịch để lấy chỗ cho ba.
“Thành! Đù má mầy! Sao lâu dzậy - sợ hả? Ngồi xuống, ngồi xuống…”
“Đưa nó năm chai.” Người nói quay sang ba hung dữ. “Dễ với mầy đó, chứ ai ở đây cũng uống tám chín chai rồi.”
Lần đầu tiên ba cho tôi ở lại. Tôi ngồi ở mép vòng tròn, quan sát như bị thôi miên. Một rừng giọng Việt Nam chửi thề, chúc tụng, kêu than về con cái, trêu chọc một chú nói lắp, “Nó có năm-năm-năm trăm sức ngựa.” Trong suốt lúc đó ba chỉ cười hiền lành, mặt ông đỏ lên vì bia nhìn như bị cháy nắng. Bát đũa trên tay, ông trông có vẻ trẻ thơ bên cạnh hai người đàn ông đang buôn chuyện chiến tranh. Tôi quan sát ông thỉnh thoảng đụng đũa vào mâm thức ăn ê hề ở giữa vòng tròn. Thức ăn là đồ nhậu. Hàu béo bự chấm muối tiêu chanh. Ốc biển luộc to cỡ quả bóng bi da. Gỏi gà xé miền Nam trộn dấm ăn với bánh phồng tôm chiên. Ai đó gọi tên ba, ông đã buông đũa xuống và đang nói trầm trầm:
“Trời đất, xe tăng tới trước rồi tên lửa và M60. Mầy nhớ tiếng nó không? Điếc tai luôn. Tụi tao đang trốn trong hầm dưới chùa, má, bốn chị tao và bà Trần bán bánh cùng một số người nữa. Hổng nghe thấy gì hết trơn. Rùi tiếng súng ngưng, bà Trần nói với má phải lên phố thôi. Nếu ở lại đây tụi Mỹ nó sẽ nghĩ mình là Việt Cộng. ‘Tao không đi đâu hết,’ má tao nói. ‘Tụi nó có lựu đạn đó,’ bà Trần nói. Tao vừa sợ vừa thích. Tao chưa bao giờ nhìn thấy người Mỹ.”
Mất một lúc tôi mới liên hệ được ba tôi với câu chuyện ông đang kể. Ông bắt được cái nhìn của tôi và giữ lấy nó trong một khắc, như đang chia sẻ một bí mật với tôi. Ông đang say.
“Vậy là tụi tao lên mặt đất. Đâu đâu cũng thấy bụi với khói, chỉ nghe thấy tiếng trực thăng và M16. Nhà nhà cháy. Rồi qua làn khói tao nhìn thấy một người Mỹ. Tao suýt cười. Hắn mặc quân phục lôi thôi lắm - quá rộng với hắn - hắn mang một cái vòng cổ bện và đội mũ bóng chày. Hắn vác khẩu M16 trên vai như vác thuổng. Trời đất, hắn coi không giống Việt Cộng chút nào, họ mặc sơ mi cài nút tới cằm - lại còn sơ vin nữa, ngay cả khi bò dưới địa đạo đầy bùn suốt ngày.”
Ông cầm đũa lên xắn tiết canh - một món đặc sản - thịt băm ngâm trong máu vịt đông. Một số người khác đang lắng nghe, mỉm cười hiểu biết. Tôi nhìn răng ông nhuốm đỏ khi ông vừa nhai vừa nói nốt:
“Tụi nó bắt tụi tao đi đến phía đông của làng. Tụi nó có khoảng mười người, tụi tao thì năm mươi người. Bà Trần cứ nói, ‘Không phải VC, không phải VC.’ Tụi nó không nghe thấy bả vì ồn kinh khủng, toàn nghe tiếng súng tự động và máy xả lựu đạn M79, nhớ mấy thứ đó không? Chỉ có tao nghe thấy bả. Tao thấy mảnh xác thú vật rải khắp cánh đồng, một con trâu bị mất cả cái be sườn, như bị muỗng xúc đi vậy đó. Rùi qua làn khói tao thấy ông Long cúi lạy một thằng lính Mỹ, tao muốn kêu ổng lại. Vợ, con gái và hai đứa cháu gái ổng, Mỹ và Kim, đứng sau ổng sợ hết hồn. Thằng Mỹ bước lên, lấy báng súng gõ đầu ổng rồi quay súng lại bắn thẳng vào họng ổng. Không ai nói chi hết. Má ráng che mắt tao nhưng tao vẫn nhìn thấy hắn chuyển cò súng từ chế độ tự động sang bắn tỉa rùi bắn bà Long. Rùi hắn và một thằng bạn kéo đứa con gái ổng vào bụi, kéo theo luôn hai đứa con gái đang bám vào chân má tụi nó.
“Chúng bắt tụi tao dừng lại ở cái cống gần cầu. Xác người rải trên đường, một đứa nhỏ mới sanh chỉ còn nửa đầu dưới, một nhà sư áo cà sa nhuốm hồng. Tao thấy hai cái xác người có hình con át bích khắc vào ngực. Tao không hiểu chi hết. Các chị tao thậm chí còn không khóc. Mọi người giờ đang gào lên, ‘Không phải VC không phải VC,’ nhưng tụi Mỹ chỉ nhăn mặt, nhổ nước miếng và cười. Một thằng nói gì đó rồi mấy thằng khác bắt đầu đẩy tụi tao xuống cống. Cái cống ngập nước bùn tới nửa. Má nhảy xuống rồi nhấc các chị tao xuống từng người một. Tao nhớ tao ngước nhìn lên thấy trực thăng đầy trời, cái to cái nhỏ, cái cao cái thấp. Chúng bắt tụi tao quỳ trong nước. Chúng dựng súng lên chạc. Rồi chúng bắt tụi tao đứng lên lần nữa. Một trong số chúng, một thằng nhỏ với cái mặt bự, vừa nhồi đạn vào ổ vừa khóc lóc rên rỉ. ‘Không phải VC, không phải VC.’ Chúng không nhìn tụi tao. Chúng bắt tụi tao quay lưng lại. Chúng bắt tụi tao quỳ lại xuống nước. Rồi chúng bắt đầu bắn, tao cảm thấy người má giật trên người tao, giật thiệt lâu, và rồi xung quanh tiếng trực thăng kêu mỗi lúc một lớn hơn như sắp sửa hạ cánh hết xuống, rồi thì tất cả đều tối tăm ẩm ướt ấm áp và ngọt ngào.”
Cả vòng người lặng hẳn. Má từ bếp ra, ngồi xổm cạnh ba, vòng tay quàng cổ ba. Đây là một hành vi phạm luật nhỏ. “Trời đất,” má nói, “các ông hổng còn gì hay hơn để nói sao?”
Sau một khắc yên lặng, ai đó khịt mũi và nói thiệt to, “Thành, mầy thắng rồi đó. Mày khổ thiệt!” và rồi tất cả mọi người, kể cả ba cũng phá lên cười. Tôi cũng cười theo mà không rõ tại sao. Mọi người cụng ly và chúc tụng bằng những từ tôi không hiểu.
Có thể ba không kể câu chuyện ấy chính xác như vậy. Có thể tôi đang điền vào những quãng trống. Nhưng khi viết một bài ngợi ca, người ta không phải thề sẽ chỉ nói sự thật, mà câu chuyện này cũng rất gần với sự thật. Ba tôi lớn lên ở tỉnh Quảng Ngãi, làng Sơn Mỹ, thôn Tư Cung mà sau này người Mỹ biết đến với cái tên Mỹ Lai. Lúc đó ông mười bốn tuổi.
Khuya Đêm Đó, tôi cắm điện vào chiếc Smith Corona. Nó ngâm nga đầy hứa hẹn. Tôi tóm lấy chai Scotch dưới bàn ra rót một cốc đúp. Má nó, tôi nghĩ. Tôi chỉ có hai ngày rưỡi nữa thôi. Tôi sẽ viết câu chuyện dân tộc về người cha Việt Nam của mình. Đó là một câu chuyện hay. Một câu chuyện tuyệt bỏ xừ.
Tôi cho giấy trắng vào máy. Ở dòng đầu, tôi đánh “Truyện Dân Tộc” bằng chữ hoa. Tôi đẩy cần chữ và cuộn xuống dòng tiếp theo. Có tiếng trực thăng trên bầu trời đêm. Các phím gõ vào trang giấy.
Hôm Sau Tôi Dậy Muộn. Tôi ngồi trong quán cà phê với các trang giấy đánh máy, ngắm nhìn khách đến và đi. Họ cười, ngồi, nhấm nháp và nói chuyện, nghe họ nói tôi lại được nhắc nhở một lần nữa rằng mình đang ở trong một thị trấn nhỏ tại một đất nước xa lạ.
Tôi nghĩ tới ba đang nằm trong phòng ngủ nhá nhem. Khi tôi đi, cửa phòng đóng kín. Tôi nhớ tới hình ảnh ông khi tôi vào phòng xem ông ra sao trước khi đi ngủ: thân hình ông bị chăn nuốt chửng và đầu ông thật nhỏ giữa đống gối. Ông đã già đi trong ba năm qua. Da ông trong như thủy tinh dưới ánh bình minh xanh da trời. Ông đang ở đây, bây giờ, với tôi, điều đó làm phần còn lại của đời tôi tưởng như vô thực.
Tôi đọc lại những gì đã viết: nghĩ tới ông vào tuổi đó, vẫn là một cậu nhỏ, và về con người ông đã trở thành bây giờ. Tại bàn bên cạnh, cậu thanh niên giơ ra một cái tai nghe iPod, gọi bạn gái sang ngồi cạnh mình. Cửa mở và một làn gió lạnh ùa vào. Tôi cố gắng tập trung.
“Chào!” Đó là Linda, em mặc cái áo khoác đi bộ màu da cam rộng và mang theo mình làn hương tươi mát khỏe khoắn của tất cả những nơi em vừa tới. Mặt em đang dập đi một nụ cười. “Anh làm gì ở đây?”
“Đang sửa truyện của anh.”
“Ba anh cũng ở đây à?”
“Không.”
Các bạn em đang đợi ở quầy. Em gật đầu với họ, giơ lên một ngón tay rồi đi vòng qua sau lưng tôi, đặt hai tay lên vai tôi. “Truyện đây à anh?’ Em cúi qua người tôi, tóc em mơn man trên mặt tôi, lạnh và mềm như lụa trên hai má tôi. Em cầm lên đọc thầm một vài trang. “Em không hiểu,” em nói, đặt mấy tờ giấy lại trên bàn, “Anh đang làm gì vậy?”
“Em nói vậy ý gì?”
“Anh chưa kể những chuyện này với em bao giờ.”
Tôi nhún vai.
“Ba anh kể những chuyện này với anh à? Giờ ông nói chuyện lại với anh rồi?”
“Không hẳn thế,” tôi nói.
“Không hẳn thế?”
Tôi quay lại để nhìn thẳng vào mặt em. Đôi mắt em không hề phản chiếu ánh sáng.
“Anh biết em nghĩ gì không?” Em nhìn lại vào mấy trang giấy. “Em nghĩ anh đang biện hộ cho ba anh.”
“Biện hộ?”
“Anh đang lãng mạn hóa quá khứ của ông,” em hạ giọng nói tiếp, “để giải thích những gì anh nói ông đã làm với anh.”
“Đây chỉ là một câu chuyện thôi,” tôi nói. “Anh nói ông làm gì anh?”
“Anh nói ông hành hạ anh.”
Quá nặng nề, những từ này và những việc liên quan đến chúng. Tôi nhìn vào gương mặt nghiêm nghị, xinh đẹp, đôi mắt bẫy ánh sáng của em và chợt cảm thấy chúng đang buộc tội tôi. “Anh chưa bao giờ nói vậy.”
Em lùi lại nửa bước. “Nói cho em nghe,” em nói, giọng dịu lại. “Anh chưa bao giờ giới thiệu ông với người bạn gái cũ nào của anh, đúng không?” Câu hỏi căng trên mặt em.
Tôi không nói gì và sau một lúc em gật đầu, cắn một khóe môi trên. Tôi biết cử chỉ ấy. Dù biết rằng tôi phải đứng dậy, kéo thân hình khoác áo màu da cam của em về phía mình, thì thầm vào tai em, nhưng tất cả những gì tôi có thể làm là nghĩ về ba và những lý do của ông. Những xác người tơi tả trên người ông. Mười tiếng đồng hồ ông đã chờ đợi, bùn tràn dần vào phổi, cho tới khi đêm xuống. Tôi cảm thấy mình quay lại với các thói quen cũ.
Em bước tới và hôn đỉnh đầu tôi. Đó là một trong các nguyên tắc của em: không rời khỏi một cuộc tranh cãi mà không biểu lộ một vài dấu hiệu âu yếm. Tôi không nhìn em. Má tôi thích kể câu chuyện khi gia đình chúng tôi mới tới Úc, chúng tôi sống trong một nhà trọ trên một phố ở một quận ngoại ô xa mà người trên phố - bất cứ khi nào họ gặp gỡ hay chia tay - đều ôm hôn nhau nồng nhiệt. Ba tôi - vừa bối rối, vừa bị mê hoặc bởi điều đó - đã đặt tên phố là “phố của những người tình.”
Tôi quay về phía cửa sổ: trời đã tối, đêm lắng xuống dày đặc và sâu thẳm. Một người đàn ông và một người phụ nữ ngồi đối diện qua một cái bàn cao. Người phụ nữ cúi về phía trước, mỉm cười, đôi nhũ hoa tựa vào mặt bàn gỗ, khuỷu tay ngả về phía trước, bàn tay cô chỉ cách ngực áo của người đàn ông vài phân. Răng cô sáng lấp lánh trong suốt cuộc chuyện trò. Phía sau họ, một người mẹ ngồi với đứa con trai. “Mẹ không chơi đâu,” bà lẩm bẩm, lật nhanh các trang tạp chí.
“Chữ L,” cậu bé nói.
“Mẹ đã bảo không chơi mà.”
Đây Là Điều Tôi Tin: Chúng ta tha thứ cho mọi hy sinh của bố mẹ miễn là sự hy sinh đó không mang tên chúng ta. Với ba tôi, không còn một tên nào khác - chỉ có tên tôi, và ba đặt tên tôi theo tên quê hương ông đã từ bỏ. Sự hy sinh của ông là trọn vẹn và thúc đẩy ông làm mọi điều ông đã làm. Tôi không xứng đáng với tất cả những điều đó.
Mười sáu tuổi, tôi bỏ nhà đi. Có một cô gái, thuốc kích thích, và khả năng mất mát lớn hơn tôi tưởng tượng. Cô là hiện thân của tất cả những gì ba tôi ngăn cấm và hiển nhiên là xứng đáng. Tất nhiên ba đã đúng về cô: cô dạy tôi nỗi đau - nhưng cả sự hứa hẹn. Chúng tôi như hai con vật trong bóng tối, tấn công lẫn nhau và kể từ hồi đó tôi chưa bao giờ có lại được cảm giác ấy - cảm giác hiến dâng. Khi ba phát hiện má đưa tiền cho tôi sống, ông bắt bà lựa chọn giữa ông và tôi. Bà chuyển vào sống trong một xưởng may của một người bạn của gia đình, học cách sử dụng máy vắt sổ và tiếp tục gửi tiền cho tôi.
“Tất nhiên má muốn sống với ba,” má nói với tôi khi tôi tới thăm bà, hàng tháng sau đó. “Nhưng má muốn con về nhà nữa.”
“Ba không muốn vậy.”
“Con là con trai ổng,” má nói đơn giản. “Ổng muốn con ở bên.”
Tôi giặt ủi đồng phục, nhờ một người bạn cắt tóc giùm và đợi đến giờ tan trường mới bắt tàu về nhà. Ba tôi lui vào trong khi tôi tới. Khi trở lại phòng khách, ông đã thay áo và trên tóc ông có nước. Tôi cảm thấy nôn nao và bừng tỉnh - tưởng như tất cả mấy tháng trước là một giấc ngủ và giờ đây mặt tôi lại ướt nước, lạnh buốt xương. Căn phòng mang hương bạc hà. Ông hỏi tôi có mạnh không và tôi nói tôi mạnh, rồi ông hỏi cô bạn gái tôi có mạnh không và lúc đó tôi nhận ra ông đang nói chuyện với tôi không phải như một người cha nói chuyện với đứa con trai duy nhất mà như ông đang nói với một người bạn, với bất kỳ ai, điều đó làm tôi tan nát. Tôi đã biết cảm giác máu mình tụt xuống là như thế nào nhưng nó không là gì so với bây giờ. Tôi buộc mình phải nhìn ông và tôi xin ông đưa má về nhà.
“Còn con?”
“Con sẽ không nhận tiền của má nữa.”
“Con về nhà đi,” cuối cùng ông nói. Giọng ông như bị xiết lại, nửa phần nghẹn ngào.
Ngay hồi đó, các cảm xúc của tôi đã hoạt động như một hệ thống đòn bẩy và ròng rọc; chỉ cần nhìn ông là nó đi vào chuyển động vô phương đảo ngược. “Không,” tôi nói. Câu trả lời bắn ra từ tôi.
“Con về nhà rồi má sẽ về nhà, và ba hứa với con sẽ không bao giờ nhắc đến chuyện này nữa.” Ông nhìn ra chỗ khác, cười nặng nề và lấy khăn tay ra. Trán ông ẩm mồ hôi. Ông đã bị chôn sống trong cái ghì siết nóng ẩm của gia đình mình, bị nghiền nát bởi cuộc sống của những người thân. Tôi muốn biết ông đã leo ra khỏi cái hố đó như thế nào. Tôi muốn biết liệu tôi và ông có bao giờ tìm được sự tương hợp nữa hay không. Tôi muốn biết tất cả những điều đó nhưng một mô men nội tại đang chuyển dịch tôi ngày một xa ông hơn.
“Thế giới tàn nhẫn lắm,” ông nói. Trong một khắc tôi không rõ có phải ông đang dùng tục ngữ hay không. Ông nhìn tôi, gương mặt ông như tấm mặt nạ phản chiếu ánh sáng yếu ớt. “Con nói dạ đi rồi chúng ta có thể quên mọi thứ. Vậy thôi. Chỉ cần nói dạ.”
Nhưng tôi đã không nói. Không nói vào ngày hôm đó, ngày tiếp theo hay bất cứ ngày nào trong gần một năm sau. Tuy vậy khi tôi cuối cùng nói ra từ ấy, sau khi đã cai nghiện và cải tạo cách ly, ông đã giữ lời và không bao giờ nói về vấn đề đó nữa. Thực tế, sau khi tôi trở về nhà, ông không bao giờ nói nhiều về bất kỳ điều gì nữa và dưới sự im lặng mới học được này, cả ba chúng tôi - ba, má và tôi, cùng chung sống lần nữa dưới một mái nhà - đã bị dẫn dụ một cách khôn cưỡng theo cuộc đời riêng biệt của mỗi người.
Căn Hộ có mùi tỏi xào và dầu mè khi tôi về. Ba đang ngồi trên sàn phòng khách, trên một cái đệm đặc biệt ông mang theo. Nó làm bằng xốp trắng. Ba bảo tôi nó có lợi cho lưng của ông. “Có đồ xào trong bếp đó con.”
“Cảm ơn ba.”
“Hồi sáng ba đọc truyện của con,” ông nói “khi con còn đang ngủ.” Có cái gì đó cuộn lên trong dạ dày tôi. Tôi quên mất không giấu bản thảo đi. “Có nhiều lỗi trong đó.”
“Ba đọc rồi à?”
“Truyện sau cùng của con cũng có lỗi nữa.”
Truyện sau cùng của tôi. Tôi nhớ má gọi điện cho tôi hồi đó: ba tôi, thất nghiệp và sống một mình ở Sydney, đã bắt đầu gửi email dài cho bạn bè xưa của ông - bạn từ ba mươi, bốn mươi năm về trước. Tôi nên nói chuyện với ông nhiều hơn, má nói vậy. Tôi đã gửi cho ông câu chuyện tôi viết về người tị nạn. Ông không phản hồi gì. Giờ đây, khi bước ra khỏi bếp với một đĩa đồ xào đầy có ngọn, tôi cố nhớ lại những phần mình đã không nghiên cứu kỹ trước khi viết. Có thể là cảnh ở Rạch Giá - trước khi họ lên thuyền. Tôi xúc đầy một muỗng tàu hũ tẩm, hạt điều và đậu răng ngựa. Ông đã đi chợ. “Chỉ là truyện thôi ba,” tôi nói, nhai bình thản. “Truyện tưởng tượng.”




























































































































